TraThuongHieu.comTra Thương Hiệu
Đọc công báo sở hữu công nghiệp

Các mã số trong ngoặc trên công báo nhãn hiệu: (210), (540), (511), (731) nghĩa là gì

Mỗi dòng trên công báo nhãn hiệu mở đầu bằng một mã số trong ngoặc. Bảng giải nghĩa các mã hay gặp và cách đọc một mục công bố từ trên xuống.

Close view of a pencil resting on blank pages of an open bound volume on a cafe table in Hanoi, a person in a grey sweater partly visible, rainy light

Các con số trong ngoặc như (210), (220), (540), (511), (731) trên công báo nhãn hiệu là mã định danh dữ liệu theo chuẩn quốc tế do Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới đề ra: (210) là số đơn, (220) là ngày nộp đơn, (540) là mẫu nhãn, (511) là nhóm và danh mục hàng hoá, dịch vụ, (731) là chủ đơn. Nhờ mã này, công báo của các nước khác nhau đọc được theo cùng một cách, kể cả khi bạn không đọc được ngôn ngữ của nước đó.

Bài này đi qua các mã hay gặp nhất trong phần nhãn hiệu, theo thứ tự chúng thường xuất hiện trong một mục công bố, rồi chỉ cho bạn cách đọc một mục từ trên xuống trong vòng một phút. Cách đánh mã cụ thể của từng số công báo có thể khác đôi chút; trang giải thích ở đầu mỗi số luôn là nơi đối chiếu cuối cùng.

Vì sao công báo dùng mã số thay cho chữ

Một số công báo có thể chứa hàng nghìn mục nhãn hiệu. Nếu mỗi mục ghi đầy đủ "Số đơn:", "Ngày nộp đơn:", "Chủ đơn:" thì vừa tốn chỗ vừa khó xử lý bằng máy. Mã số giải quyết cả hai: ngắn, cố định, và phần mềm đọc được. Chuẩn này được nhiều cơ quan sở hữu công nghiệp trên thế giới dùng, Việt Nam cũng theo nên khi bạn quen cách đọc ở đây, bạn đọc được cả dữ liệu nhãn hiệu của nhiều nước khác.

Mã chia thành các nhóm theo chữ số hàng trăm. Nhóm 100 nói về văn bằng (số bằng, ngày cấp, ngày hết hạn). Nhóm 200 nói về đơn (số đơn, ngày nộp). Nhóm 300 nói về quyền ưu tiên. Nhóm 400 nói về ngày công bố. Nhóm 500 nói về chính cái nhãn và hàng hoá mang nhãn. Nhóm 700 nói về con người: chủ đơn, chủ văn bằng, người đại diện. Biết quy luật này, gặp một mã lạ bạn vẫn đoán được nó thuộc loại thông tin gì.

Đối với người không chuyên, chỉ cần nhớ chừng mười mã. Phần còn lại bạn tra ở trang giải thích khi cần.

Bảng mã hay gặp trong mục nhãn hiệu

Bảng dưới liệt kê các mã thường thấy trong phần nhãn hiệu của tập đơn và tập văn bằng. Không phải mục nào cũng có đủ các mã; mục nào không có thông tin tương ứng thì bỏ dòng đó.

MãNghĩaGhi chú khi đọc
(111)Số văn bằngChỉ có khi đã cấp văn bằng, thấy ở tập văn bằng
(151)Ngày cấp văn bằngKhông phải ngày bắt đầu hiệu lực tính hạn
(180) hoặc (181)Ngày hết hạn hiệu lựcVới nhãn hiệu, tính mười năm từ ngày nộp đơn
(210)Số đơnSố duy nhất, dùng để tra cứu
(220)Ngày nộp đơnMốc xác định thứ tự ưu tiên giữa các đơn
(300)Dữ liệu ưu tiênNước, số và ngày của đơn đầu tiên nếu có xin hưởng quyền ưu tiên
(441) hoặc (400)Ngày công bố đơnMốc tính thời hạn cho ý kiến, phản đối của người khác
(450)Ngày công bố văn bằngThấy ở tập văn bằng
(511)Nhóm và danh mục hàng hoá, dịch vụGhi số nhóm theo bảng phân loại Nice rồi danh mục cụ thể
(526)Phần không được bảo hộ riêngChữ hoặc hình trong nhãn mà bạn không độc quyền riêng
(531)Mã phân loại yếu tố hìnhTheo bảng phân loại Viên, dùng để tra nhãn hình
(540)Mẫu nhãnHình ảnh hoặc chữ của nhãn như đã nộp
(591)Màu sắc yêu cầu bảo hộKhông có dòng này thường nghĩa là nhãn không yêu cầu màu cụ thể
(731) / (732)Chủ đơn / chủ văn bằngTên và địa chỉ
(740)Người đại diệnTổ chức dịch vụ đại diện đã nộp hộ, nếu có

Một số số công báo có thể ghi mã khác cho cùng thông tin, ví dụ dùng (400) thay cho (441). Đừng hoang mang, cứ xem trang giải thích của chính số đó.

Đọc một mục công bố đơn từ trên xuống

Hãy hình dung một mục công bố đơn giả định trong tập đơn. Dòng đầu là (210) với số đơn, bên cạnh là (220) ngày nộp. Nếu đơn có xin hưởng quyền ưu tiên từ một đơn nộp ở nước khác trước đó, sẽ có thêm dòng (300) ghi mã nước, số đơn và ngày của đơn nước ngoài. Tiếp theo là (441) ngày công bố.

Phần giữa là nhãn: (540) hiện mẫu nhãn. Nếu nhãn có màu, (591) ghi tên các màu. Nếu nhãn có yếu tố hình, (531) ghi một hoặc nhiều mã phân loại hình. Nếu có từ ngữ mà Cục ghi nhận là không được bảo hộ riêng, (526) sẽ nêu ra.

Phần cuối là hàng hoá và con người: (511) ghi số nhóm, ví dụ "30", rồi danh mục sản phẩm cụ thể như "bánh kẹo, mè xửng". Nếu có nhiều nhóm, mỗi nhóm một đoạn. (731) ghi tên và địa chỉ chủ đơn. (740) ghi người đại diện nếu có.

Khi đọc mục của chính mình, đi đúng thứ tự này và tự hỏi ở mỗi dòng: dòng này có khớp với tờ khai không. Khi đọc mục của người khác, thứ tự quan tâm lại khác: nhìn (540) trước để biết nhãn có giống nhãn mình không, rồi (511) để biết có cùng nhóm hàng không, sau đó mới đến (731) xem ai nộp và (441) xem đã công bố từ bao giờ.

Những mã hay bị đọc nhầm

(151) và (220). Nhiều người tính hạn văn bằng từ ngày cấp (151). Thực ra hiệu lực văn bằng nhãn hiệu kéo dài mười năm tính từ ngày nộp đơn, tức là từ (220). Đọc nhầm hai mốc này là cách nhanh nhất để lỡ hạn gia hạn.

(731) và (732). (731) là người nộp đơn, (732) là chủ văn bằng. Thông thường là một, nhưng nếu đơn được chuyển nhượng giữa chừng, hai tên có thể khác nhau ở hai lần công bố.

(526) và việc bị từ chối. Có phần không được bảo hộ riêng không có nghĩa là nhãn bị từ chối. Nhãn vẫn được bảo hộ ở tổng thể, chỉ là bạn không độc quyền riêng chữ hay hình đó.

(511) và phạm vi bảo hộ thật. Số nhóm chỉ là ngăn tủ; phạm vi bảo hộ nằm ở danh mục cụ thể ghi sau số nhóm. Có nhóm 30 không có nghĩa là bạn được bảo hộ cho mọi thứ trong nhóm 30.

(591) để trống. Không có dòng màu sắc không phải là thiếu sót. Nhãn nộp dạng đen trắng hoặc không yêu cầu màu thì không có dòng này.

Tận dụng mã để tra nhanh hơn

Biết mã không chỉ để hiểu, mà còn để tra nhanh khi có trong tay tệp công báo dày hàng trăm trang.

  • Khi tệp có lớp chữ, gõ "(210)" kèm phần cuối số đơn để nhảy thẳng tới mục cần xem.
  • Muốn xem các đơn trong một nhóm hàng, tìm "(511)" kèm số nhóm, ví dụ "(511) 30", rồi lướt các kết quả.
  • Muốn biết một người đại diện đã nộp những gì trong số này, tìm theo tên ở dòng (740).
  • Muốn lọc nhãn có hình gần với nhãn của mình, ghi lại mã ở dòng (531) trong mục của chính mình, rồi tìm các mục có cùng mã.
  • Khi chép thông tin vào bảng theo dõi, dùng chính mã làm tên cột. Người khác đọc bảng của bạn cũng hiểu ngay.

Những thủ thuật này phụ thuộc vào việc tệp có lớp chữ và cách tệp ghi ký tự ngoặc. Nếu tìm "(210)" không ra, thử chỉ gõ "210" hoặc tìm theo số đơn trơn.

Các mã ít gặp hơn nhưng nên biết

Mã về loại nhãn. Một số mục có dòng cho biết nhãn là nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận hay nhãn hiệu thông thường. Với chủ đơn là hợp tác xã hoặc hội nghề, đây là dòng cần kiểm đầu tiên, vì loại nhãn quyết định ai được dùng nhãn và theo quy chế nào.

Mã về mô tả nhãn. Có số công báo ghi kèm phần mô tả bằng lời cho nhãn, nhất là nhãn có chữ nước ngoài, chữ cách điệu hoặc phiên âm. Đọc phần này để biết Cục hiểu nhãn của bạn ra sao, ví dụ chữ cách điệu được đọc là chữ gì.

Mã về nhãn chữ chuẩn. Ở một số cơ quan, nhãn chỉ gồm chữ viết theo kiểu chữ thông thường được đánh dấu riêng. Công báo Việt Nam có thể không dùng dòng này; nếu có, nó cho biết nhãn được bảo hộ ở dạng chữ, không gắn với kiểu chữ hay màu cụ thể.

Mã về đơn tách hoặc đơn gốc. Khi đơn được tách, mục công bố có thể ghi số và ngày của đơn gốc. Dòng này giải thích vì sao một đơn mang số mới lại có ngày nộp sớm hơn nhiều đơn khác cùng kỳ.

Mã về đăng ký quốc tế. Với nhãn đến từ hệ thống đăng ký quốc tế có chỉ định Việt Nam, thông tin thường mang số đăng ký quốc tế thay cho số đơn trong nước. Phần theo dõi những nhãn này có đặc thù riêng, bạn nên xem hồ sơ trên cơ sở dữ liệu thay vì chỉ dựa vào công báo.

Từ công báo sang hồ sơ theo dõi của bạn

Khi đã hiểu mã, việc chép thông tin từ công báo sang hồ sơ của mình trở nên đơn giản. Với mỗi nhãn, bạn chỉ cần một dòng trong bảng gồm: (210), (220), (441), (540) dưới dạng ảnh chụp nhỏ, (511) ghi số nhóm, (731). Khi đơn được cấp, thêm (111), (151), (180) hoặc (181) và (450). Đó là toàn bộ "chứng minh thư" của nhãn.

Cách làm này có lợi ích thực tế: khi sau này cần gia hạn, cần đề nghị sửa văn bằng hay cần cung cấp thông tin cho sàn thương mại điện tử, đối tác, ngân hàng, bạn không phải lục lại công báo. Và khi có ai hỏi "nhãn của bạn đăng ký nhóm nào, từ ngày nào", bạn trả lời ngay bằng số liệu khớp với nguồn chính thức.

Nếu bạn quản lý nhiều nhãn, đừng chép tay danh mục hàng hoá dài vào bảng. Chỉ ghi số nhóm, còn danh mục đầy đủ để ở bản chụp trang công báo hoặc bản sao văn bằng. Chép tay dễ sai, và một chữ sai trong danh mục có thể khiến bạn hiểu nhầm phạm vi bảo hộ.

Câu hỏi thường gặp

Mã (210) và số văn bằng (111) có giống nhau không?

Không. Số đơn (210) được cấp khi nộp đơn, còn số văn bằng (111) chỉ có khi đơn được cấp văn bằng. Hai số này khác nhau và bạn cần ghi cả hai vào hồ sơ theo dõi.

Có cần nhớ hết các mã trên công báo không?

Không cần. Với người theo dõi nhãn hiệu của mình, khoảng mười mã trong bảng là đủ. Gặp mã lạ, bạn xem trang giải thích ở đầu số công báo, nơi liệt kê nghĩa của từng mã.

Thấy dòng (526) trong mục nhãn của mình thì có cần làm gì không?

Bạn nên đọc kỹ phần nào bị ghi là không được bảo hộ riêng và so với điều bạn mong đợi khi nộp đơn. Nếu thấy chưa hợp lý, nên hỏi người làm nghề vì đây là phần thuộc nội dung thẩm định.

Ngày công bố đơn (441) dùng để làm gì?

Đây là mốc công khai của đơn. Các thời hạn để người khác gửi ý kiến hoặc nộp phản đối đối với đơn được tính liên quan đến mốc này, nên bạn ghi lại để biết khoảng thời gian đơn có thể bị người khác lên tiếng.

Công báo nước ngoài có dùng cùng các mã này không?

Phần lớn cơ quan sở hữu công nghiệp dùng cùng chuẩn mã nên các con số giống nhau, dù chữ giải thích là tiếng nước đó. Một số nơi có thể dùng thêm mã riêng, khi đó cần xem phần chú giải của họ.

Mục công bố của mình không có dòng (591) có phải lỗi không?

Thường là không. Không có dòng màu sắc nghĩa là nhãn không yêu cầu bảo hộ màu cụ thể. Chỉ khi tờ khai của bạn có yêu cầu màu mà công báo bỏ trống thì mới cần đối chiếu lại.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.