TraThuongHieu.comTra Thương Hiệu
Một nhãn hiệu còn hay hết hiệu lực

Các tình trạng hiệu lực của văn bằng nhãn hiệu: đọc đúng từng chữ trên hồ sơ

Còn hiệu lực, hết hạn, chấm dứt, huỷ bỏ toàn bộ hay một phần: mỗi chữ trên hồ sơ văn bằng nói một điều khác nhau về quyền và về việc bạn nên làm tiếp.

Two colleagues seen from behind in a Hanoi co-working space, one pointing at a stack of blank folders sorted into piles on a long wooden table, soft daylight

Một văn bằng nhãn hiệu chỉ có thể ở vài tình trạng cơ bản: còn hiệu lực, hết hạn vì không gia hạn, bị chấm dứt hiệu lực, hoặc bị huỷ bỏ hiệu lực, và hai tình trạng sau có thể áp dụng cho toàn bộ hay chỉ một phần danh mục. Cơ sở dữ liệu có thể dùng chữ khác nhau qua từng thời kỳ, nhưng về bản chất pháp lý thì vẫn quy về mấy trường hợp này.

Hiểu đúng từng tình trạng giúp bạn trả lời ba câu hỏi đi kèm: quyền mất từ thời điểm nào, mất toàn bộ hay một phần, và có cách nào để chủ văn bằng lấy lại không. Bài dưới đây giải nghĩa từng chữ, chỉ ra những cách hiểu sai thường gặp và gợi việc bạn nên làm tiếp với mỗi tình trạng.

Bảng tổng hợp các tình trạng và ý nghĩa

Bảng dưới đây là khung để bạn đặt bất kỳ chữ nào đọc được trên hồ sơ vào đúng ô. Chi tiết căn cứ và thủ tục của từng tình trạng nên đối chiếu thêm bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.

Tình trạngQuyền ra saoTính từ khi nàoChủ văn bằng còn đường lấy lại không
Còn hiệu lựcChủ văn bằng có độc quyền trong phạm vi danh mụcTừ ngày cấp đến mốc hết hạn hiện tạiKhông đặt ra
Hết hạn, chưa gia hạnQuyền dừng ở mốc hết hạn nếu cuối cùng không gia hạnTừ mốc hết hạnCòn trong khoảng được nộp gia hạn muộn theo quy định
Bị chấm dứt hiệu lựcQuyền mất từ thời điểm chấm dứtThường từ ngày phát sinh căn cứ hoặc ngày ghi trong quyết địnhTuỳ căn cứ, có thể khiếu nại quyết định
Bị huỷ bỏ hiệu lựcVăn bằng coi như không có hiệu lực từ đầu trong phạm vi bị huỷTừ ngày cấpCó thể khiếu nại hoặc khởi kiện quyết định
Chấm dứt hoặc huỷ một phầnQuyền còn với phần danh mục không bị ảnh hưởngNhư trên, chỉ với phần bị ảnh hưởngNhư trên

Điểm khác nhau lớn nhất nằm ở cột thứ ba. Chấm dứt là quyền dừng lại từ một mốc trở đi; huỷ bỏ là quyền bị xoá ngược về quá khứ. Hai chữ này không thay cho nhau được.

"Còn hiệu lực" không có nghĩa là an toàn tuyệt đối

Tình trạng còn hiệu lực chỉ khẳng định một điều: tại thời điểm dữ liệu được cập nhật, văn bằng chưa hết hạn và chưa có quyết định chấm dứt hay huỷ bỏ nào được ghi nhận. Nó không nói gì về những yêu cầu đang được xem xét, và không nói gì về khả năng văn bằng bị yêu cầu chấm dứt vì lâu không sử dụng trong tương lai.

Với người đang định nhận li-xăng hay mua lại nhãn, đây là chỗ cần cẩn thận. Một văn bằng còn hiệu lực nhưng chủ đã ngừng bán hàng nhiều năm thì về nguyên lý có thể bị bên thứ ba yêu cầu chấm dứt, vì luật cho phép chấm dứt khi nhãn không được chủ sở hữu hoặc người được chủ sở hữu cho phép sử dụng trong năm năm liên tục mà không có lý do chính đáng.

Tình trạng còn hiệu lực cũng cần đọc cùng danh mục. Một văn bằng có thể vẫn còn nhưng đã được thu hẹp, không còn phủ nhóm hàng mà bạn quan tâm. Cho nên câu hỏi đúng là "còn hiệu lực cho sản phẩm nào", chứ không chỉ "còn hay hết".

"Hết hạn" và khoảng thời gian dễ gây hiểu lầm sau mốc hết hạn

Mốc hết hạn là một ngày cụ thể. Mốc đó bằng ngày nộp đơn cộng mười năm, cộng thêm mười năm cho mỗi lần gia hạn. Qua ngày này mà chưa có quyết định gia hạn mới thì dữ liệu sẽ hiện văn bằng đã quá hạn.

Pháp luật cho chủ văn bằng một khoảng nộp gia hạn muộn. Trong khoảng đó chủ văn bằng vẫn có thể nộp gia hạn kèm khoản phí nộp muộn. Độ dài khoảng ân hạn và mức phí bạn đối chiếu quy định hiện hành. Nếu gia hạn được chấp nhận, hiệu lực được nối liền, không bị đứt quãng.

Vì vậy "quá hạn" chưa chắc là "mất hẳn". Người ngoài nhìn thấy một văn bằng vừa qua mốc hết hạn không nên vội kết luận nhãn đã tự do. Phải chờ hết khoảng nộp muộn và kiểm lại xem có ghi nhận gia hạn hay ghi nhận chấm dứt không.

Sau khi hết hẳn, dữ liệu thường ghi rõ. Khi khoảng nộp muộn trôi qua mà không có gia hạn, cơ sở dữ liệu và công báo sẽ phản ánh việc văn bằng hết hiệu lực. Khoảng giữa hai thời điểm này là vùng xám mà bạn nên kiểm chéo.

"Chấm dứt hiệu lực": quyền dừng từ một mốc trở đi

Chấm dứt hiệu lực xảy ra khi văn bằng vốn được cấp đúng, nhưng sau đó có một sự kiện khiến quyền không còn được duy trì. Với nhãn hiệu, các căn cứ thường gặp gồm: chủ văn bằng tự tuyên bố từ bỏ quyền, chủ văn bằng là doanh nghiệp không còn tồn tại hoặc cá nhân không còn hoạt động kinh doanh mà không có người kế thừa hợp pháp, nhãn không được sử dụng năm năm liên tục mà không có lý do chính đáng. Nhãn hiệu tập thể và nhãn hiệu chứng nhận còn có căn cứ riêng liên quan tới việc kiểm soát quy chế sử dụng. Luật sửa đổi những năm gần đây có bổ sung thêm căn cứ, nên khi cần chi tiết bạn đối chiếu bản hợp nhất.

Hệ quả quan trọng: những việc diễn ra trước mốc chấm dứt vẫn được đánh giá theo quyền đang còn lúc đó. Một hợp đồng li-xăng đã thực hiện, một hành vi xâm phạm đã xảy ra khi văn bằng còn hiệu lực, không tự nhiên biến mất chỉ vì sau đó văn bằng bị chấm dứt.

Chấm dứt có thể là toàn bộ hoặc một phần. Ví dụ giả định: một văn bằng phủ ba nhóm hàng, nhưng chủ chỉ thực sự bán một nhóm; bên thứ ba yêu cầu chấm dứt với hai nhóm còn lại và được chấp nhận. Lúc này hồ sơ sẽ hiện văn bằng vẫn còn, nhưng danh mục đã ngắn lại.

"Huỷ bỏ hiệu lực": văn bằng bị xoá ngược về ngày cấp

Huỷ bỏ hiệu lực xảy ra khi có căn cứ cho thấy văn bằng lẽ ra không được cấp: người nộp đơn không có quyền đăng ký, nhãn hiệu không đáp ứng điều kiện bảo hộ tại thời điểm cấp, hoặc đơn được nộp với dụng ý xấu. Phạm vi có thể toàn bộ hoặc một phần, tuỳ căn cứ chỉ đúng với một số hàng hoá, dịch vụ hay với cả văn bằng.

Vì huỷ bỏ có hiệu lực ngược về ngày cấp, hệ quả của nó rộng hơn chấm dứt. Về nguyên lý, phần bị huỷ coi như chưa từng phát sinh quyền. Những giao dịch dựa trên phần quyền đó, như li-xăng hay chuyển nhượng, có thể phải xem xét lại; cách xử lý cụ thể giữa các bên phụ thuộc hợp đồng và quy định pháp luật dân sự, nên đây là chỗ thường cần ý kiến của người làm nghề.

Khi đọc hồ sơ, bạn nên tìm ngày ra quyết định huỷ, phạm vi bị huỷ và căn cứ huỷ nếu được ghi. Một văn bằng bị huỷ một phần vì một nhóm hàng không đáp ứng điều kiện phân biệt có ý nghĩa rất khác với một văn bằng bị huỷ toàn bộ vì đăng ký với dụng ý xấu.

Bốn cách hiểu sai hay gặp khi đọc tình trạng

Coi "đã cấp" là "còn hiệu lực". Chữ "đã cấp" chỉ nói văn bằng từng được cấp. Một văn bằng cấp từ mười lăm năm trước mà không gia hạn thì đã hết hiệu lực từ lâu, dù dòng đầu hồ sơ vẫn ghi ngày cấp rất rõ ràng. Luôn đi tiếp xuống phần ghi nhận và tự tính mốc hết hạn.

Coi chấm dứt và huỷ bỏ là một. Nhiều người dùng lẫn hai chữ này trong câu nói hằng ngày. Trên hồ sơ thì khác hẳn: một bên dừng quyền từ một mốc trở đi, một bên xoá quyền ngược về ngày cấp. Hệ quả với hợp đồng, với hành vi xâm phạm đã xảy ra, vì thế cũng khác.

Coi tình trạng của đơn là tình trạng của văn bằng. Trước khi có văn bằng, hồ sơ là một đơn với các trạng thái như hợp lệ, công bố, thẩm định. Khi đơn đã thành văn bằng, câu hỏi chuyển sang hiệu lực. Đọc lẫn hai loại trạng thái dễ dẫn tới kết luận lạ, kiểu một đơn bị từ chối nhưng lại tưởng là văn bằng bị huỷ.

Coi nhãn của người khác đã hết hiệu lực là nhãn bỏ ngỏ. Văn bằng hết hiệu lực chỉ là một mảnh của bức tranh. Chủ cũ có thể vẫn đang bán hàng dưới tên đó, có thể vừa nộp đơn mới, và luật còn cho nhãn đã hết hiệu lực tiếp tục được dùng làm căn cứ từ chối đơn trùng trong một khoảng thời gian, trừ một số trường hợp như chấm dứt vì không sử dụng.

Việc nên làm tiếp với từng tình trạng

Đọc đúng tình trạng mới là nửa đường. Nửa còn lại là quyết định làm gì với thông tin đó.

  • Còn hiệu lực, nhãn của bạn: ghi mốc hết hạn vào lịch, kiểm lại danh mục còn khớp với sản phẩm đang bán, lưu bằng chứng sử dụng.
  • Còn hiệu lực, nhãn của người khác: nếu bạn định dùng nhãn tương tự, hãy dừng lại và đánh giá rủi ro; nếu định giao dịch, đề nghị bên kia xác nhận không có yêu cầu chấm dứt, huỷ bỏ đang chờ.
  • Vừa qua mốc hết hạn: với nhãn của bạn, nộp gia hạn ngay trong khoảng nộp muộn; với nhãn người khác, chờ và kiểm lại sau khi khoảng đó kết thúc.
  • Đã bị chấm dứt: xác định mốc chấm dứt, phạm vi, căn cứ; nếu là nhãn của bạn mà bạn không đồng ý, xem thời hạn khiếu nại ghi trong quyết định.
  • Đã bị huỷ bỏ: rà lại các hợp đồng liên quan tới văn bằng đó; với giao dịch lớn, nên có ý kiến luật sư.
  • Chấm dứt hoặc huỷ một phần: đọc lại danh mục còn lại và so với sản phẩm thực tế; đừng dùng văn bằng để khẳng định quyền với phần đã mất.

Ghi lại tình trạng cùng ngày tra vào cùng một chỗ với hồ sơ nhãn. Lần tra sau bạn chỉ cần so xem có gì thay đổi.

Câu hỏi thường gặp

Văn bằng hết hạn và văn bằng bị chấm dứt khác nhau thế nào?

Hết hạn là văn bằng tự dừng ở mốc mười năm vì không được gia hạn. Chấm dứt là có một căn cứ pháp lý như từ bỏ quyền hay không sử dụng liên tục khiến quyền dừng lại trước hoặc độc lập với mốc hết hạn, thường qua một quyết định của Cục.

Văn bằng bị huỷ bỏ thì các hợp đồng li-xăng trước đó có còn giá trị không?

Huỷ bỏ có hiệu lực ngược về ngày cấp với phần bị huỷ, nên quyền làm nền cho hợp đồng coi như không có. Cách giải quyết quyền lợi giữa các bên, như tiền đã trả, phụ thuộc hợp đồng và pháp luật dân sự; giao dịch lớn nên hỏi luật sư.

Một văn bằng có thể vừa còn hiệu lực vừa bị huỷ không?

Có, khi văn bằng bị huỷ một phần. Phần danh mục không bị ảnh hưởng vẫn còn hiệu lực, còn phần bị huỷ coi như chưa từng được bảo hộ. Vì vậy luôn đọc danh mục hiện tại chứ không chỉ dòng tình trạng.

Nhãn quá hạn vài tuần mà chủ vẫn gia hạn được thì quyền có bị gián đoạn không?

Nếu chủ văn bằng nộp gia hạn trong khoảng nộp muộn và được chấp nhận, hiệu lực được nối liền như chưa từng gián đoạn. Đó là lý do người ngoài không nên coi một nhãn vừa quá hạn là nhãn đã tự do.

Chữ trên cơ sở dữ liệu khác với các chữ trong bài thì đọc sao?

Tên tình trạng trên công cụ tra cứu có thể thay đổi theo phiên bản phần mềm. Hãy đặt chữ bạn thấy vào đúng một trong các nhóm: còn hiệu lực, hết hạn, chấm dứt, huỷ bỏ; nếu không chắc, đọc các dòng ghi nhận chi tiết phía dưới hoặc hỏi Cục.

Ai có quyền yêu cầu chấm dứt hay huỷ bỏ một văn bằng?

Về nguyên tắc, chủ văn bằng có thể tự tuyên bố từ bỏ, còn bên thứ ba có quyền yêu cầu chấm dứt hoặc huỷ bỏ khi có căn cứ luật định và nộp phí, lệ phí. Một số căn cứ có giới hạn thời gian yêu cầu; chi tiết đối chiếu bản hợp nhất Luật Sở hữu trí tuệ.

Cần tư vấn cụ thể cho trường hợp của bạn?

Chúng tôi sẽ liên hệ trong vòng 24 giờ.

Đăng ký tư vấn ngay

Bài viết liên quan

Bạn cần hỗ trợ thêm?

Để lại thông tin, chúng tôi sẽ liên hệ trong 24 giờ.